Phát triển cấp số nhân
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tỷ trọng thanh toán bằng thẻ hiện chiếm 6% trong tổng số món giao dịch của các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Tốc độ tăng trưởng bình quân của lượng thẻ phát hành ra lưu thông những năm gần đây khoảng 150-300%/năm. Nếu như năm 2003, số lượng thẻ phát hành chỉ ở mức gần 234.700 thẻ, năm 2006 là 3,5 triệu thẻ thì sang năm 2007 số lượng thẻ đã tăng mạnh theo cấp số nhân lên đến gần 8,3 triệu thẻ.
Số lượng thẻ các ngân hàng trong nước phát hành chủ yếu là thẻ ghi nợ nội địa chiếm 93,87%, sau đó là thẻ ghi nợ quốc tế chiếm 3,65%, thẻ tín dụng quốc tế chiếm 2,22%, thẻ tín dụng nội địa chiếm 0,31%. Hầu hết lượng thẻ phát hành đều gắn với tài khoản tiền gửi cá nhân và một số dư tiền gửi nhất định trong đó, do đó thông qua thẻ các ngân hàng huy động được một nguồn vốn khá rẻ.
Khi thẻ ngân hàng xâm nhập vào thị trường Việt Nam cách đây khoảng 10 năm, lúc đó chỉ có vài ngân hàng phát hành thẻ như Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) ... Nhưng nay đã có khoảng 30 ngân hàng khai thác thị trường thẻ với hơn 130 thương hiệu khác nhau, trong đó thương hiệu thẻ nội địa chiếm 54%. Dẫn đầu thị trường thẻ Việt Nam là Vietcombank với số lượng phát hành trên 3 triệu thẻ. Dù ra đời sau nhưng thẻ ATM của Ngân hàng TMCP Đông Á (DAB) phát triển rất nhanh trong những năm gần đây cả về dịch vụ lẫn số lượng phát hành.
Bên cạnh các ngân hàng trong nước, sự xuất hiện của các loại thẻ do ngân hàng nước ngoài như ANZ, HSBC... trong thời gian gần đây khiến thị trường thẻ Việt Nam thêm đa dạng và phong phú. Với kinh nghiệm phát triển thẻ toàn cầu, các ngân hàng nước ngoài thật sự là "đối thủ" nặng ký của các ngân hàng trong nước về lĩnh vực thẻ.
Hầu hết các loại thẻ triển khai dịch vụ rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn hàng hóa dịch vụ, mua hàng hóa trực tuyến, thấu chi tài khoản, hưởng các ưu đãi về dịch vụ và giảm giá mua hàng tại các điểm liên kết, vấn tin tài khoản và in sao kê, chi lương qua tài khoản, nhận tiền kiều hối, bảo hiểm tai nạn, giao dịch qua kênh ngân hàng điện tử... Tuy nhiên thị trường thẻ ngân hàng phát triển chưa đồng đều, lượng thẻ phát hành của các ngân hàng tập trung chủ yếu tại các tỉnh thành lớn, người sử dụng thẻ là cán bộ, công nhân viên...
Đẩy mạnh đầu tư
Để phục vụ cho số lượng thẻ phát hành ngày càng gia tăng nhanh, các ngân hàng đã đầu tư nhiều vào hạ tầng kỹ thuật. Năm 2006, số lượng máy ATM của các ngân hàng khoảng 2.500 máy ATM, 14.000 máy quẹt thẻ (POS) thì đến cuối năm 2007, lượng máy ATM đã lên đến 4.300 máy, 23.000 POS. Trong giai đoạn đầu, các ngân hàng phát triển hệ thống máy ATM một cách cục bộ, thẻ ATM ngân hàng nào phát hành thì sử dụng trên máy ATM ngân hàng đó. Chính điều này đã hạn chế mạng lưới thanh toán đối với khách hàng sử dụng thẻ, đồng thời hiệu quả đầu tư máy ATM không được cao.
Do đó, các đơn vị phát hành thẻ đã liên minh với nhau thành lập các công ty làm dịch vụ kết nối trung gian. Các liên minh thẻ hiện nay gồm Công ty Smartlink có 25 thành viên, với 2.056 máy ATM ( chiếm 48% thị trường), 17.502 máy POS/EDC (chiếm 57%) và số lượng thẻ đã phát hành gần 4,73 triệu thẻ (chiếm 57%); Liên minh thẻ Đông Á có 5 thành viên tham gia đã phát hành gần 1,8 triệu thẻ (chiếm 21%), với gần 800 máy ATM (chiếm 18%), gần 1.700 máy POS/EDC (chiếm 57%) và Công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia Banknetvn với số lượng gần 2.700 máy ATM chiếm 62% thị trường, gần 10.600 máy POS/EDC chiếm 46%, phát hành hơn 5,2 triệu thẻ (chiếm 62%). Sự liên kết của các ngân hàng phát hành thẻ đã giúp khách hàng dùng thẻ của ngân hàng này sử dụng trên máy ATM của ngân hàng khác. Ngân hàng Nhà nước đã phê duyệt Đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất để kết nối các liên minh thẻ.
Để tăng tính bảo mật cho thẻ, các ngân hàng trong nước đang dần chuyển đổi công nghệ thẻ từ sang thẻ chip. Thẻ chip được đánh giá là loại thẻ thông minh có thể ngăn ngừa các hoạt động gian lận bằng các bộ vi xử lý bên trong con chíp gắn vào thẻ. Thẻ còn tăng cường khả năng bảo mật bằng cách thay thế chữ ký bằng mật mã cá nhân - PIN có thể sử dụng qua internet. Không những ngăn ngừa gian lận mà thẻ chip còn là nền tảng cho các thế hệ thẻ mới với nhiều tính cạnh tranh, đa dạng sản phẩm và cung cấp dịch vụ. Điều này sẽ phần nào tác động đến sự lựa chọn của các chủ thẻ, thay vì lựa chọn những thẻ có phí thường niên và lãi suất thấp sang lựa chọn thẻ mang nhiều tiện ích và có phong cách riêng. Một số ngân hàng trong nước đã thấy được vấn đề này và lựa chọn thẻ chip phát hành như Ngân hàng TMCP Ngoài quốc doanh (VPBank).